Archive for September, 2010

30 mẹo khi học TA

September 25, 2010

Nguồn: http://songtra.wordpress.com/2010/09/19/m%E1%BA%B9o-v%E1%BA%B7t-h%E1%BB%8Dc-ti%E1%BA%BFng-anh/

Mẹo vặt học tiếng Anh

Posted on 19.09.2010 by songtra

Tiếng Anh (TA) của tôi cũng tạm thôi, nhưng tôi muốn chia xẽ cùng các bạn một số kinh nghiệm học TA của tôi. Bài viết dài, mọi điểm được nêu không theo một thứ tự ưu tiên nào cả. Hy vọng nó sẽ hửu ích đối với các bạn còn đang gặp khó khăn nói TA.

Mẹo vặt học nói tiếng Anh – Helpful tricks for learning English:

1. Học tiếng Anh đòi hỏi thời gian, kiên nhẫn và miệt mài. Bạn thử nghĩ xem, các em bé người Anh, Mỹ phải mất 10 năm mới có thể nắm bắt và đối đáp lưu loát được khoảng 1,000 từ. Ở mẫu giáo và bậc tiểu học, cha mẹ, thầy cô giáo phải sửa tới sửa lui nhiều lần để các em dần dần phát âm đúng. Các em còn được thường xuyên sửa nguyên câu nói cho hay hơn. Vì vậy, đừng vội nản chí, đừng đòi hỏi phải có kết quả ngay lặp tức.

2. Khi nói tiếng Việt, miệng, môi và lưởi của bạn ít xê dịch, nhưng tiếng Anh thì khác. Khi nói chuyện với người yếu TA, người Tây thường nhìn miệng để đoán chữ. Vì vậy bạn hãy thực tập mở miệng lớn hơn như cười thật tươi, như cười mỉm, hay như chúm môi “hôn”. Đồng thời lưởi của bạn cũng moving giữa các vị trí chiến lược như sau: sau hàm răng trên, sau hàm răng dưới, giữa hai hàm răng, phía trên giữa miệng, gần cổ họng. Có vài chữ đòi hỏi môi phải khép lại trước hoặc sau khi phát âm. Nói chung, moving miệng, lưởi, môi phù hợp giúp chúng ta phát âm đúng, rõ hơn và người Tây dễ hiểu chữ ta muốn nói. Mới đầu, bạn sẽ bị mỏi miệng, luởi, nhưng sẽ hết và move nhanh dần.

3. Muốn nói TA ít nặng giọng, bạn nên tập phát âm từng âm một được phiên âm trong tự điển – Bạn đọc nhanh, nhưng không bỏ xót một âm nào của chữ đó.

Ví dụ:
-Chữ best có phiên âm là “bést”. Tất cả gồm 3 âm: bé (thêm dấu sắc vì âm nhấn), s và t.
-Chữ next có phiên âm là “nékst”. Tất cả gồm 4 âm: né, k, s, t.
-Chữ nest có phiên âm là ” nést”. Tất cả gốm 3 âm: né, s, t.

Hai từ trên đọc khác nhau bởi chữ “k”. Bạn không phát âm k thành tiếng, nhưng phải ngừng lài 1/30 giây (rất chớp nhoáng) để nhận diện sự có mặt của nó, trước khi tiếp tục đọc s và t. S được đọc lướt qua thật nhanh (1/40 giây) để nối vào âm t. Vì vậy, đọc nest nhanh và smooth hơn next.

4. Biết một từ nào đó, nhưng không biết cách phát âm đúng, thì bạn sẽ gặp khó khăn để nhận ra chữ đó, khi nghe người ta nói. Vì trong quá trình tập đọc, bạn đã vô tình tập cho tai của bạn cách nhận ra chữ đó. Nếu bạn tập đọc sai thì đương nhiên, khi nghe TA tai bạn cũng tự động expect nghe được những âm đã được program sai – Cái sai này dẫn đến cái sai khác. Nói chung, bạn nên điều chỉnh lại cách đọc của bạn ngay từ bây giờ, vì để càng lâu thì nó càng rắc rối và càng cản trở bước tiến của bạn.

5. Những từ có 2 âm trở lên, bạn phải biết âm nào là âm nhấn. Phát âm đúng và mạnh âm nhấn. Còn âm phụ, nếu bạn đọc nhỏ hay đọc không chính xác, người nghe vẫn dễ dàng đoán hiểu được.

Ví dụ:
Position. bạn có thể đọc po,pô, pơ, nhưng âm nhấn zí, lúc nào cũng giống nhau.

Còn positive bạn phải đọc đúng âm đầu pó, âm sau là âm phụ nên tùy người đọc zi hay zơ đều đúng. Dĩ nhiên là âm nào cũng phải nên đọc đúng, nhưng âm chính là ưu tiên hàng đầu. Không nhớ âm chính, có thể dẫn tới việc hiểu sai ý nghĩa của chữ muốn nói.

Ví dụ:
Polish và police, dessert và desert.

6. Học chữ nào nên học luôn cả câu, để khi cần là nói ra ngay chứ không phải tốn thì giờ lắp ghép – chắc chắn bạn đở bị cà lăm và có phản ứng nhanh nhẹn hơn. Việc này cũng giúp cho bạn không cần tập trung moi óc “vất vả làm bài vào phút chót”, mà bạn có thể relax, tập trung lắng nghe người ta nói và focus hơn vào cuộc đàm thoại.

7. Lắp ráp, sử dụng 1 chữ vừa biết với chủ từ, túc từ, động từ, giới từ, tỉnh từ, trạng từ khác nhau trong 1 câu (xác định, phủ định và câu hỏi) – Nghĩa là biết một chữ nhưng có thể sử dụng 5-10 câu.

8. Nếu bạn học đúng phương pháp và có căn bản vững chắc, thì bạn có thể bắt đầu nói TA lưu loát khi có 1,000 từ. Quan trọng là bạn phải ưu tiên học những từ popular và có khả năng sử dụng tốt các câu lắp ráp sẳn mà bạn đã thuộc. Tự đặt mình vào vai của em bé 10 tuổi thì bạn mới hiểu được hết ý tôi nói.

9. Lưu ý là c, g, t có 2 cách phát âm: hard và soft.

Ví dụ:
Phát âm “c” cho car, corn, curl, common, vv.
Phát âm “s” cho cent, city, cylinder. Ghi chú: Phát âm soft c cho c có e, i , y đi kèm..

“g” cho gìft, gun, girl, go, vv.
“dz” cho genius, ginger, gypsy, page, vv. Ghi chú: Phát âm soft g cho g có e, i , y đi kèm.

Hard t phát âm như “th” của tiếng Việt, khi nào t là chữ cái đầu tiên của một từ: Taxi, ten, turn, etc.
Soft t phát âm giống như t của tiếng Việt, dành cho mọi trường hợp khác: artist, captain, enter, etc.

.

—–+—–+—–

.

10. Ngày nay học TA bạn có tự điển online: http://www.thefreedictionary.com/. Hãy bỏ chữ vào để nghe cách phát âm của người Mỹ, Anh. Bạn nên chọn 1 trong 2, Mỹ hay Anh, tuỳ sỡ thích. Chọn Vietnamese cho phần translation. Bạn có thể vào phần spelling bee để luyện nghe.

11. Phát âm lại tất cả các mẫu tự a,b,c,…z. để xem bạn phát âm có thật sự đúng không. Sau abcd… thì tới phiên ngày tháng, sáng chiều, đẹp xấu, to lớn, buồn vui, vv. Nên dò xét lại có chữ nào, âm nào trong tiếng Anh mà bạn chưa thể phát âm chính xác hay khi nói thì người nước ngoài phải hỏi tới hỏi lui. Nhiều khi Tây hiểu ý hay kể cả, nhận ra cái từ mà bạn vừa sử dụng cũng chưa nói lên được bạn phát âm hoàn toàn đúng. Hãy tra từ điển online.

12. Đa số những chữ có 2 âm, dùng cả cho danh và động từ, thì nhấn âm đầu cho danh từ, âm sau cho động từ.

Ví dụ:
Recall, exploit, increase, vv.

13. Lúc đầu chỉ học nói những từ sơ đẵng giống như trẻ em. Tùy trình độ phát âm của bạn mà tăng dần lên từ khó hơn. Bạn nên nhớ là khi mà người Tây nghe bạn nói quá chậm chạp, cấu kết câu nói chưa đúng và phát âm khó nghe thì tự động họ cho rằng trình độ TA của bạn còn yếu. Họ sẽ dùng từ dễ hiểu nhất để nói với bạn, đồng thời tai của họ expect từ bạn những chữ dễ tương tự. Vì vậy, phải ráng học phát âm đúng, còn nếu không, nhiều khi bạn cứ lòng vòng, lập đi lập lại những từ ngữ sơ đẵng, dễ đọc, dễ hiểu – sau một lúc có thể bạn nản chí vì không thấy tiến.

14. Từ có 3 âm trở lên có thể có 2 âm nhấn: một chính, một phụ. Tuy nhiên, 2 âm nhấn không bao giờ liên tiếp nhau.

Ví dụ:
Fascinate. Âm đầu chính và âm cuối phụ.

15. Những chữ tận cũng bằng “ate” thì âm nhấn hầu như lúc nào cũng nằm cách “ate” một âm.

Ví dụ:
COMplicate, maNIpulate, FAbricate, afFECtionate.

16. Đối với một số người trên thế giới, TA là dễ, nhưng đối với người Việt hay ĐNA, Đông Á thì quá khó. Một điều khích lệ là: Giả sử trình độ TA của bạn chỉ bằng một em bé 10 tuổi thì bạn vẫn được lắng nghe một cách respectfully. Người nước ngoài rất kiên nhẫn với những người yếu TA như tôi và bạn. Giả sử vào các diễn đàn TA viết văn như học sinh lớp 8, 10, bạn sẽ thấy người Tây thường chỉ để ý đến chất lượng ý kiến của bạn.

17. Âm “less” và “ness” nằm cuối một từ không bao giờ là âm nhấn, bởi vì less và ness là những chữ được ghép vào nhằm hổ trợ ý nghĩa cho từ chính. Do đó, “less” và “ness” phải được đọc bằng âm dấu nặng chứ không phải dấu sắc.

Ví dụ:
Business, happiness, sadness, vv.

18. Đừng quên đọc những âm ở đuôi, chẵng hạn như t, d sh, g, ve, f, c, z, l, ed, st, xt, ted, ches, ess, ive, etc. Không đọc âm đuôi của một chữ, tức chưa đọc xong chữ đó. Đọc không đúng âm đuôi có thể làm cho người nghe hiểu sai ý bạn muốn nói. Thật ra âm đuôi quang trọng không kém những âm khác.

19. Nhiều người không nhận ra có âm “l” trong TIẾNG MỸ. Âm l rất quan trọng khi nằm ở cuối chữ.

Ví dụ:
Real, pull, fail, sale, mile,spoil, feel, mail, girl, cool, rule, etc.

Nghe từ điển bạn sẽ nhận ra âm l trong những chữ vừa nêu hay mọi chữ được viết tương tự – Có khi âm l rất rõ, có khi chỉ nghe phản phất.

Những chữ âm l rõ: Smile, oil, style, mild, bạn nên đọc là s+mai+ồ+l, oi+ồ+l, s+tai+ồ+ l, mai+ồ+d.

Nói chung là: Dù âm l đọc lớn hay nhỏ thì khi đọc, lưởi của bạn phải đồng thời di chuyển lên phía trên, đụng vòm họng và đầu lưởi chạm vào chân răng của hàm trên. Dĩ nhiên, khi TM của bạn đã giỏi quá rồi thì lúc đó bạn nên đọc hết mọi l trong một chữ, dù l ở đầu hay giữa chữ.

20. Xem các chương trình dành cho trẻ em trên các đài (hay websites) truyền hình Âu Mỹ rất phù hợp cho người học TA, vì chỉ những từ ngữ phổ thông được sử dụng và phát âm rất chuẫn; miệng lưởi moving rõ ràng; cách diễn đạt dễ hiểu, lại hài hước.

.

—–+—–+—–

.

21. Bạn có thể xem đi, xem lại nhiều lần một băng DVD ưng ý – Tốt hơn là xem nhiều DVD, nhưng lúc nào cũng chỉ học phớt qua. Mở subtitle để vừa xem chữ, vừa nghe nói. Khi TA của bạn đã khá thì bạn có thể vừa xem phim vừa đọc theo subtitle. Cũng như đọc sách, bạn hãy cho chạy tới lui dể nghe cho bằng được mọi chữ, mọi đoạn văn khó.

22. Khi bạn đã đạt advanced level thì nên vào diễn đàn TA để học hỏi cách diễn đạt suy nghĩ, diễn tả sự việc một cách phức tạp. Loại DĐ nào thì tuỳ thuộc vào sở thích của bạn.

23. Nhớ voiced và voiceless consonants sẽ giúp bạn học thuộc nhanh hơn một số rules khác, chẵng hạn như khi thêm “ed” hay “s” vào sau một từ.

Luôn luôn kéo âm thanh dài ra cho những nguyên âm (vowels) có voiced consonant theo sau và làm ngược lại cho voiceles consonant.

Ví dụ:
Advise, eyes, knees, have, made, had, bed, bag, dog ( kéo dài)
Advice, ice, niece, half, mate, hat, bet, back, dock (đọc nhanh)

24. U nằm sau d thì phải đọc là dz tương tự như chữ j trong joke.

Vi dụ:
GraDUal, scheDUle, education, graduation, procedure, etc.

Nhưng ‘t + u” và “t + y” thì phải đọc như “ch” của chữ church, change, etc.

Ví dụ:
AcTUally, staTUe, nature, situation, fortunate, don’T You, can’t you, etc.

25. Như đã nói trên, trẻ em phải tập nói nhiều thì giọng các em mới chính sát, rõ mau được. Tương tự, phải tập hát nhiều thì mới có thể trở thành ca sĩ được. Bạn nên đọc sách hay bất cứ cái gì viết bằng TA mỗi ngày; lúc nào cũng đọc đúng từng chữ. Bảo đảm, bạn sẽ đọc nhanh hơn dần. Khi gặp từ khó phát âm hay một đoạn câu toàn chữ khó, bạn nên tập đọc tới lui cho đến khi đọc suông sẽ hoặc ghi ra giấy. Những câu văn gọn gàng, diễn tả được những ý nghĩa cần thiết mà bạn thấy trong tự điển, sách, vv, cũng nên ghi xuống để thực tập sau đó.

26. Tự ôn lại bằng TA mọi việc bạn đã làm trong ngày, những gì bạn đả nói. Có thể tạo ra tình thế mà bạn có nhiệm vụ phải lên tiếng hay giải thích cho người khác hiểu về một sự việc. Lập đi lập lại một đề tài cho đến khi nào bạn thoả mãn về từ ngữ, cấu kết câu văn, giọng đọc và tốc độ trình bày.

27. TA có nhiều chữ được phiên âm một cách vô qui tắc, khó hiểu, nhưng phần lớn đều tuân theo những rules nhất định. Thật ra TA có nhiều rules hơn bất kỳ một ngôn ngữ nào. Càng biết được nhiều rules thì mới biết được sự ngoại lệ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.

28. TA có hai âm i: Một i ngắn và một i dài.

– Âm i ngắn cho mọi trường hợp chỉ có một i: Bit, sit, fill, piss.
– Âm i dài cho nhiều trường hợp khác: Beat, seat, feel, piece.

Đọc i dài khi nào bạn thấy: ee – see, ea – meal, ie – believe, ei – either, chữ cái cuối cùng là e – me, chữ cái cuối cùng là y – city, cụm chữ cuối cùng là ique – unique, và e + phụ âm + e như Vietnamese, steve, peter, these.

Người Tây mỗi khi chụp hình thường nói “say g”, bởi vì “g” có phiên âm: dzee hay dzi: – Âm i dài. Vậy khi bạn phát âm i dài, bạn nên mở miệng như đang mỉm cười. Động tác này làm cho âm i dài ra và ít bị ảnh hưởng bởi phụ âm theo sau.

Ví dụ:
Sit: vì i ngắn nên bạn đọc sí + t giống y như là sít + t. Nghe rất “sắc” và nhanh.
Seat: Bạn phải đọc s í í í í + t. Nghe nhẹ nhàng, thong thả.

29. Để mau tiến, hãy học cái tinh thần và cái cách của người Âu Mỹ: Mạnh dạn hơn trong mọi sự, nêu thắc mắc, tỏ ra grateful, sorry, open-minded, straightforward, không vòng vo lung tung, vv. Không chỉ trên diễn đàn mà ngay cả khi bạn tiếp xúc với người nước ngoài. Cứ việc tỏ ra vui vẻ, xáp lại chào hỏi, nói chuyện búa xua với những câu đã thuộc làu. Đừng hỏi tuổi, income, khen cao chứ đừng khen mập. Tây thích và rất trân quí những tiếp xúc tự nhiên thân thiện của người bản xứ.

30. Khi “t” là chữ cái cuối cùng của một từ, người Mỹ thường chỉ đọc nó (t) nếu từ đó ở cuối một đoạn câu, một câu hay vì cố tình nhấn mạnh từ đặc biệt đó.

Ngoài các trường hợp trên, t luôn luôn câm đối với người Mỹ. câm có nghĩa là lưởi được đưa vào vị trí để chuẩn bị phát âm t, nhưng lưởi được giử luôn ở đó.

Ví dụ:
Can’T go, don’t like, at work, budget cut, outside, lately. WhaT? ThaT can’t be right! That apartment felt quite hot.

“t” mà nằm giữa hai nguyên âm thì người Mỹ đọc thành “d” thật nhanh.

Ví dụ: Water, better, city, forty, little, meeting, duty, matter, party, total.
Đọc là: Wader, bedder, cidy, fordy, liddle, meeding, dudy, madder, pardy, todal.

31. Không những văn nói mà trong văn viết, những tạp chí, tài liệu, sách vở TA, TM càng có giá trị, nổi tiếng thì cách cấu tạo câu văn, từ ngữ sử dụng càng giản dị dễ hiểu. Mọi tầng lớp lao động trí thức, già trẻ đều có thể hiểu rõ ràng ý chính, cộng mọi chi tiết được nêu. Đây cũng là một sự khích lệ cho dân ESL.

Cảm ơn bạn đã đọc. Mọi góp ý, thắc mắc của bạn đều được đón nhận via paul.le11@yahoo.com. Good luck!